Quy định nêu rõ trách nhiệm, thẩm quyền của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và của từng đảng viên trong việc quản lý, sử dụng, cũng như xử lý vi phạm liên quan đến thẻ đảng viên.
Theo đó, công tác quản lý thẻ đảng viên bao gồm: cấp mới, cấp lại; sản xuất, in, hủy thẻ; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Thẻ đảng viên được sử dụng để biểu quyết trong sinh hoạt đảng, tại đại hội đảng các cấp (trừ trường hợp biểu quyết bằng phiếu kín) và thực hiện các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử theo quy định. Việc quản lý, sử dụng phải chặt chẽ, đúng quy định; nghiêm cấm làm giả thẻ đảng viên.
Về trách nhiệm của đảng viên, Quy định yêu cầu phải bảo quản, sử dụng thẻ đúng mục đích; không cho mượn, không cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố; không đăng tải hình ảnh thẻ lên mạng xã hội với mục đích xấu hoặc sử dụng thẻ không phải của mình; không tự ý hủy thẻ. Trường hợp thẻ bị sai, hỏng, mất phải kịp thời báo cáo bằng văn bản để xem xét cấp lại. Đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên hoặc đưa ra khỏi Đảng phải nộp lại thẻ; trường hợp đảng viên từ trần, gia đình được giữ thẻ nhưng không được sử dụng trái quy định.
Chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm quán triệt, hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng thẻ; đề nghị cấp có thẩm quyền cấp mới, cấp lại; tổ chức phát thẻ tại cuộc họp chi bộ gần nhất; hằng năm kiểm tra thẻ trong dịp kiểm điểm, đánh giá, xếp loại đảng viên và báo cáo cấp trên. Đồng thời, kịp thời xác minh, báo cáo các trường hợp mất, hỏng thẻ hoặc sử dụng sai quy định; thu hồi và nộp thẻ theo đúng quy định; thực hiện nghiệp vụ theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
Quy định cũng nêu rõ các hành vi vi phạm và chế tài xử lý. Đảng viên tự ý trả hoặc hủy thẻ, sử dụng sai quy định, làm mất thẻ không có lý do chính đáng, cho người khác sử dụng thẻ… sẽ bị xem xét xử lý theo quy định của Đảng. Tổ chức, cá nhân làm giả thẻ đảng viên hoặc bao che, không tố giác vi phạm cũng bị xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước.